15/10/2018

Hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin vào nông nghiệp

Đây là một xu hướng tất yếu trên toàn thế giới trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trong đó bùng nổ công nghệ trong các lĩnh vực như: Dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud Computing) và nổi bật là Internet vạn vật (IoT).

Nhiều mô hình, giải pháp ứng dụng CNTT trong ngành nông nghiệp Việt Nam đã được triển khai và đem lại hiệu quả tích cực.

Đã có 15.376 sáng chế về nghiên cứu và ứng dụng mạng lưới Internet kết nối vạn vật (IoT) trong nông nghiệp được công bố tại 21 quốc gia và 2 tổ chức (WO và EP). Trong đó, nghiên cứu và ứng dụng IoT trong nông nghiệp hiện đại được tập trung vào 2 hướng chính là hệ thống theo dõi, kiểm soát trồng trọt (74,62%) và hệ thống theo dõi, kiểm soát chăn nuôi gia súc, gia cầm (18,28%).
Mô hình áp dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào nông nghiệp được nhắc nhiều trên thế giới, nhất là ở Isarel và Nhật Bản.
Có diện tích rất nhỏ, trên 20.000km2, nhưng Israel lại được mệnh danh là “thung lũng Silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhưng nền nông nghiệp điện tử của nước này tạo ra giá trị sản lượng gần 23 tỉ USD/năm, xuất khẩu nông sản đạt trên 3 tỉ USD/năm. Đến nay mỗi nông dân Israel có thể nuôi được hơn 150 người khác.
Tính riêng trong lĩnh vực trồng trọt, quốc gia có 2/3 diện tích lãnh thổ là sa mạc này đã có năng suất tăng vượt trội nhờ ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt. Bằng phần mềm điều khiển tự động, chất dinh dưỡng theo các ống dẫn nước tưới nhỏ giọt cho từng gốc cây, gốc rau. Hệ thống này tự động đóng mở van khi độ ẩm của rễ cây đạt tới mức nhất định thông qua các cảm biến điện tử. Hầu như toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ hiện nay ở Israel đều được áp dụng CNTT. Người nông dân có thể tự quản lý toàn bộ các khâu sản xuất với diện tích canh tác 5-6 nghìn hécta mà không còn phải làm việc ngoài đồng ruộng.
Đến nay, vùng sa mạc Arava khô cằn nhất Israel, lượng mưa chỉ 20 mm/năm đã trở thành vùng sản xuất rau quả hết sức trù phú. Một hécta đất có thể cho năng suất hơn 3 triệu bông hồng, hay hơn 500 tấn cà chua mỗi vụ; mỗi năm, một con bò của Israel cho tới 11 tấn sữa.
Tại Nhật Bản, rất nhiều công đoạn sản xuất nông nghiệp đã áp dụng CNTT như: Lắp đặt các thiết bị GPS (Hệ thống định vị toàn cầu) để tiếp nhận thông tin truyền qua vệ tinh của các máy kéo, máy liên hợp và máy móc thiết bị nông nghiệp khác, giúp hoạt động canh tác nông nghiệp được vận hành chính xác. Mạng lưới cảm biến được sử dụng để đo nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, carbon dioxide hay những yếu tố cần thiết giúp phát triển tốt nhất một số cây trồng phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu. Mạng lưới này đi kèm với những điều chỉnh tự động trong hệ thống thông gió, che chắn ánh sáng và các yếu tố khác giúp duy trì mức độ carbon dioxide phù hợp nhất để phát triển và hỗ trợ môi trường tối ưu cho từng loại cây trồng. Song, trợ thủ đắc nhất đối với người nông dân ở quốc gia này là robot nông nghiệp - công nghệ tiên tiến được sử dụng để tự động hóa sản xuất. Không chỉ tự động lựa chọn và thu hoạch nông sản, robot còn làm thay những công việc khác như tiếp xúc với thuốc trừ sâu hay hóa chất.
Nhằm giúp người nông dân có thể tiếp thị sản phẩm một cách chủ động, Nhật Bản cũng xây dựng hệ thống điều hành thương mại nông sản điện tử giúp cho việc phân phối nông sản, giám sát và phân tích thị trường được nhanh chóng, chính xác và khoa học.
Có thể thấy, ứng dụng CNTT giải quyết tốt những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Tuy nhiên, hiện giá các sản phẩm công nghệ còn cao. Do vậy, rất cần những sản phẩm công nghệ của người Việt, phù hợp cho người Việt để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nông nghiệp với giá thành hợp lý giúp người nông dân dễ áp dụng.

Nguồn: http://hoinongdan.org.vn/